About

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

Alexandro Querevalú



    
     Alexandro Querevalú
    Không sân khấu hoa mỹ và rườm rà, không clip âm nhạc hoành tráng và chỉn chu để đánh bóng tên tuổi, Alexandro Querevalú chỉ đơn giản là trình diễn trên đường phố cho người nghe thứ âm nhạc trong trẻo và chạm vào tâm hồn người nghe. Vẫn là những bản nhạc cổ điển hoặc hiện đại, nhưng qua cách phối khí đậm màu âm nhạc của người da đỏ cùng với việc sử dụng sáo antara của tộc người Inca và nhiều nhạc cụ dân tộc giản đơn khác, Alexandro Querevalú đã tạo ra thứ âm thanh có hồn, ám ảnh người nghe một cách ma mị.
     “Âm nhạc cũng giống như không khí. Chúng ta cần có nó, không phân biệt quốc gia, chủng tộc hay trang phục…”. Có lẽ vì thế mà Alexandro chỉ biểu diễn trên đường phố và hướng đến đại chúng để mọi người đều có thể cảm nhận được những âm thanh dung dị, mộc mạc mang sắc thái của tộc người da đỏ. Những tiếng thở nhịp nhàng của con người hòa quyện với tiếng sáo antara trong vắt như tiếng gió thổi trong những khu rừng đại ngàn.
    Đoạn video này là một trong những bản phổ và trình diễn của Alexandro Querevalú cho bài Promentory là nhạc phim “The last of the Mohicans”. Bài hát được cho là một niềm kiêu hãnh của những tộc người da đỏ. Trong trang phục thổ dân, cùng với việc sử dụng tiêu và nhiều nhạc cụ dân tộc giản đơn khác của người Inca cổ, Alexandro đã thổi hồn vào những giai điệu, dường như anh đã đem cả núi rừng hoang dã và những thổ dân huyền thoại trở lại ngay giữa lòng thành phố. Một sự kết hợp hoàn hảo để thưởng thức và khen ngợi.
    The lat of the Mohicans  - tác giả : Jame Fenimore Cooper (1789 – 1851) - Câu chuyện đầy cảm xúc và tình người.

    Một ông bố Chingachgook cho dẫu chỉ còn lại một mình, vẫn đầy khí phách tự hào “ Life is an obligation which friends often owe each other in the wilderness. Sống là một nghĩa vụ  mà những người bạn thường xuyên mắc nợ nhau, nơi thâm sơn cùng cốc.”
    Đây chính là thông điệp của “The Last Of The Mohicans,” một thông điệp được người Mohican trả giá bằng sinh mạng;  bởi vì họ muốn đề cao nghĩa vụ đấu tranh, tiêu diệt cái ác và sự hung tàn để bảo vệ những người vô tội, cho dẫu họ biết rằng bộ lạc Mohican sẽ có thể bị tiêu diệt, hay chỉ còn lại người cuối cùng.

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2016

My All - Mariah Carey


          "My All" là một bài hát của ca sĩ người Mỹ Mariah Carey nằm trong album phòng thu thứ sáu của cô, Butterfly (1997). Nó được phát hành vào ngày 21 tháng 4, 1998 bởi Columbia Records như là đĩa đơn thứ tư và đĩa đơn thương mại thứ hai của album. Bài hát được sáng tác và sản xuất bởi Carey và Walter Afanasieff, bao gồm những âm hưởng của dòng nhạc La tinh.
          "My All" nhận được những phản ứng tích cực bởi các nhà phê bình âm nhạc đương đại và đạt những thành công thương mại tại nhiều thị trường khác nhau. Tại Hoa Kỳ, bài hát đã trở thành đĩa đơn quán quân thứ 13 của Carey trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Ở châu Âu, bài hát đạt hạng 4 tại Vương quốc Anh, và top 10 tại Bỉ (Wallonia), Pháp, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ.
          Lời bài hát :
          I am thinking of you In my sleepless solitude tonight
          If it's wrong to love you Then my heart just won't let me be right
        'Cause I've drowned in you And I won't pull through Without you by my side
Chorus :
         I'd give my all to have Just one more night with you I'd risk my life to feel Your body next to mine
        'Cause I can't go on Living in the memory of our song I'd give my all for your love tonight

        Baby can you feel me Imagining I'm looking in your eyes I can see you clearly Vividly emblazoned in my mind And yet you're so far Like a distant star I'm wishing on tonight

[Chorus]

         (I'd) give my all for your love tonight.

El Choclo - Nhịp điệu Tango huyền ảo

          El Choclo
          Vào cuối thế kỷ XIX, các bài tango chủ yếu là các giai điệu phổ biến trong giai cấp bình dân, thường là sáng tác tùy hứng, ít có cấu trúc bài bản.
          Khá nhiều bản tango đã ra đời trong cái bối cảnh đặc biệt của xã hội Achentina thời bấy giờ. Những bản nhạc thô tục nhất ít khi nào được ghi chép mà chỉ được truyền khẩu nên dễ bị mai một. Nếu có may mắn được lưu lại, thì bản nhạc cũng hiếm khi nào mà ghi tên tác giả.
         Khúc nhạc El Choclo do nhà soạn nhạc Angel Villoldo (tác giả của bài "El Porteñito") sáng tác vào khoảng những năm 1897-1898 và được diễn lần đầu tiên vào năm 1903. Theo sử sách, lời của bài hát đã được viết vào năm 1905.
        Trong thực tế, "El Choclo" là biệt danh của một tên ma cô chuyên cò mồi, dắt khách vào nhà chứa. Dựa vào một nhân vật có thật, với mái tóc vàng như râu ngô, tác giả Angel Villoldo phác họa cảnh dục vọng ái ân giữa hai nhân tình cũng như quan hệ giữa tên ma cô và cô gái điếm.
       
          Đến đầu những năm 1930, ca sĩ kiêm tác giả Juan Carlos Marambio Catan sửa đổi ca từ bài hát cho lần thu âm đầu tiên, nội dung trở nên tình tứ lãng mạn hơn, nói về tình yêu đôi lứa nhưng lại gạt qua một bên những hình tượng thanh tục. Phiên bản này sau đó rất ăn khách với giọng ca Angel Vargas. Trong ca từ, tác giả lược bỏ thủ pháp hoán dụ tài tình của bậc đàn anh là Angel Villoldo. Bản nhạc vì thế mà mất đi chiều sâu ban đầu do thiếu hẳn một cách đọc.
         Đến năm 1947, bài El Choclo lại có thêm một lời thứ ba trong tiếng Tây Ban Nha. Nhà thơ Enrique Santos Discépolo với cách dùng chữ trang trọng trau chuốt, lái hẳn nội dung của nguyên tác về một hướng khác. Tác giả nói về tình quê hương, những kỷ niệm thời thơ ấu để gợi lên tình cảm gắn bó của ông với đất nước, quê nhà thông qua biểu tượng của dòng nhạc tango, từ lúc khai sinh cho tới khi trở thành hình ảnh tiêu biểu của một quốc gia.
          Từ năm 1952 trở đi, bản nhạc El Choclo nổi danh trên khắp thế giới nhờ có thêm phiên bản tiếng Anh là Kiss of Fire (Nụ hôn rực lửa). Nhiều ca sĩ nổi tiếng quốc tế như Nat King Cole, Connie Francis, Louis Armstrong, Tony Martin, Georgia Gibbs … đều có thu âm bài này.
         Lối dùng ca từ trau chuốt của nhà thơ Enrique Santos Discépolo định hình khuôn thước của bài El Choclo, tất cả các phiên bản ghi âm trong tiếng Tây Ban Nha đều chọn lời thứ ba làm khuôn mẫu. Các bản dịch cũng ít nhiều gợi hứng từ lời này. Bài thơ của Enrique Discépolo được nhiều người tán tụng, trong đó có văn hào trứ danh Jorge Luis Borges khi ông cho rằng không có bài thơ nào viết về tango hay như bài thơ này.
          Không phải ngẫu nhiên mà tango từng được gọi là Vũ điệu của ác qủy, bời vì nó biểu hiện cho đam mê rực cháy lửa tình, con tim hừng hực dục vọng trong cái thời khai sinh, từ cái thuở nguyên thủy. Những giọng ca ‘‘thiên thần’’ sau đó nổi danh là ông vua hay bà hoàng của thể điệu này, biết lột tả cái hồn của tango do có kinh nghiệm từng trải với nỗi đau xác thịt.
          Những năm gần đây hơn thì có các phiên bản của Julio Iglesias, Helmut Lotti hay của Hugh Laurie. Còn trong tiếng Việt, nhạc sĩ Anh Bằng đặt lời cho bài này sau năm 1975, các phiên bản quen thuộc nhất là qua tiếng hát của Tuấn Ngọc phối theo điệu rumba, hay của Nguyên Khang phối theo tango.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

Carlos Santana

                           Ban nhạc Santana với tác phẩm "Evil Ways" - trong Đại hội Woodstock 1969.

          Carlos Augusto Santana Alves là một ca sĩ nhạc rock và nghệ sĩ ghita người Mỹ gốc Mexico đoạt giải Grammy. Santana trở nên nổi tiếng vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 với ban nhạc của anh, ban nhạc Santana, đã tạo nên sự thành công to lớn của sự hòa trộn dòng nhạc rock, blues, salsa và jazz.
          Âm thanh của ban nhạc dựa vào những giai điệu trữ tình qua những âm thanh blue của guitar đối nghịch với bộ gõ Latin như chũm chọe và conga. Santana tiếp tục với phong cách đó cho đến những thập niên sau. Và anh đã tạo nên một sự hồi sinh rộng lớn vào cuối thập niên 1990. Tạp chí Rolling Stone đã xếp anh vào vị trí thứ 15 trong danh sách 100 tay guitar vĩ đại nhất vào năm 2003 (vị trí số 20 vào năm 2012).

                                      Carlos Santana với "Sampa Pa ti" tại Mexico năm 1993.

                                                              Oye Como va - Mexico 1993

                                                               
                                               Santana - Soul Sacrifice 1969 "Woodstock"

                                             
                                               Carlos Santana - ( Da Le ) Yaleo 1999

                                      Santana - Spririts Dancing In The Flesh - Mexico 1993

                                                                
                                     Santana - Black Magic Woman (Live at Montreux 2011)

                                  Mr Carlos Santana & his Wife (great drummer) Live 2011

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

Đưa em tìm động hoa vàng-Duy Quang


(Nhạc: Phạm Duy - thơ: Phạm Thiên Thư)

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau
Thôi thì thôi đừng ngại mưa mau
Ðưa nhau ra tới bên cầu nước xuôi
Sông này đây chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông
Nhớ xưa em chửa theo chồng
Mùa Xuân may áo, áo hồng đào rơi
Mùa Thu em mặc áo da trời
Sang Ðông lại khoác lên người áo hoa.

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau
Thôi thì em chẳng còn yêu tôi
Leo lên cành bưởi khóc người rưng rưng
Thôi thì thôi, mộ người tà dương
Thôi thì thôi nhé, đoạn trường thế thôi
Nhớ xưa em rủ tóc thề
Nhìn trăng sao nỡ để lời thề bay
Ðợi nhau tàn cuộc hoa này
Ðành như cánh bướm đồi Tây lững lờ.

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say
Thôi thì thôi để mặc mây trôi
Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Thôi thì thôi, chỉ là phù vân
Thôi thì thôi nhé, có ngần ấy thôi
Chim ơi chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà
Mai ta chết dưới cội đào
Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu.

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2016

Ballade pour Adeline - Richard Clayderman

         Ballade pour Adeline (Ballad for Adeline) là một nhạc khúc được sáng tác năm 1977 bởi Paul de Senneville và Olivier Toussaint. (Paul de Senneville soạn khúc nhạc này để tặng con gái mới sinh của ông: Adeline).

         Richard Clayderman trình tấu piano cùng với dàn nhạc tác phẩm này tại Berlin - Đức.

A comme amour - Richard Clayderman

      A comme amour, tác phẩm do nhà soạn nhạc người Pháp Paul de Senneville sáng tác vào năm 1978.
      Tác phẩm này được Richard Clayderman trình diễn piano cùng với dàn nhạc.

Love theme for Romeo and Juliet - Andre Rieu

     Romeo và Juliet  là một trong những vở bi kịch kinh điển nhất mọi thời đại do nhà văn kiêm nhà soạn kịch nổi tiếng William Shakespeare viết vào khoảng năm 1594-1595. Cốt truyện xung quanh tình yêu say đắm của đôi bạn trẻ thuộc hai dòng họ thù hằn nhau lâu đời với cái kết không có hậu.
    Romeo và Juliet được chuyển thể thành nhiều phiên bản phim:
    -  Phiên bản phim năm 1954 của Italia,
    -  Phiên bản phim năm 1968 của Anh, đạo diễn Franco Zeffirelli ,  Leonard Whiting  (Romeo) và Olivia Hussey  (Juliet), âm nhạc : Nino Rota (nhạc sĩ người Ý, cũng là người viết nhạc cho bộ phim Bố già); 
    -  Phiên bản phim năm 1996 của Mỹ do Leonardo Di Caprio (Romeo) và Claire Danes (Juliet);  đạo diễn: Baz Luhrmann.
    -  Phiên bản phim Anh năm 2013, do Carlo Carlei đạo diễn, với Hailee Steinfeld vai Juliet Capulet và Douglas Booth vai Romeo Montague.
    Bộ phim sản xuất năm 1968 cho tới nay vẫn được coi là bản chuyển thể hay nhất, từng được đề cử 4 giải Oscar và giành  2 giải Oscar về phục trang và kỹ thuật quay phim.
    Nhắc đến bộ phim Romeo và Juliet, người ta thường nhớ đến bài hát nổi tiếng A time for us (Love theme from Romeo and Juliet), là ca khúc được ghi âm sau này trong đĩa Romeo and Juliet’s Soundtrack do nhà sản xuất James Fitzpatrick cùng dàn nhạc “the City of Prague Orchestra and Chorus” thực hiện.
    Mời các bạn nghe "Love theme from Romeo and Juliet" do André Rieu Léon Marie Nicolas, người Hà Lan, là nghệ sĩ vĩ cầm và là nhạc trưởng nổi tiếng của Dàn nhạc Johann Strauss độc tấu violon.

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

Francisco Tarrega - Khúc hoài niệm Alhambra

              Francisco de Asís Tárrega y Eixea, thường gọi tắt là Francisco Tárrega, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1852 - là một nhà soạn nhạc, một tay chơi đàn guitar nổi tiếng người Tây Ban Nha. Ông được xem như là người đặt nền móng cho vị trí của cây đàn guitar là nhạc cụ dành cho độc tấu. Ngoài các bản nhạc do ông sáng tác cho đàn guitar ông còn chuyển soạn một số tác phẩm của các nhà soạn nhạc khác sang trình tấu với đàn guitar.
          
          Francisco Tárrega sinh tại Villarreal, xứ Castellón, Tây Ban Nha. Cha ông là Francisco Tárrega Tirado, một nhân viên nhà hát; mẹ ông là Antonia Eixea, mất khi ông còn nhỏ.
          Thuở nhỏ Tárrega có lần bị té vào kênh dẫn nước, tai nạn này làm ông giảm thị lực rất nhiều. Có lẽ một phần do việc này mà ông được gia đình khuyến khích và cho đi học nhạc và hai người thầy nhạc đầu tiên của ông là Eugeni Ruiz và Manuel Gonzalez đều bị mù.

          Tháng 1 năm 1906 ông bị bại liệt nửa người bên phải, không bao giờ ông hồi phục hoàn toàn nhưng vẫn còn tiếp tục lên sân khấu được.
         Ông đã hoàn thành tác phẩm cuối cùng Oremus vào 2 tháng 12 năm 1909. Ông mất tại Barcelona 13 ngày sau đó, vào ngày 15 tháng 12 năm 1909, hưởng thọ 57 tuổi.

         Về sáng tác thì Tárrega là một người theo trường phái bảo thủ, ông chỉ theo xu hướng của thời đại (nửa sau thế kỉ 19) chứ không phải là một nhà cách tân, không có đột phá về phong cách.
         Về sử dụng nhạc cụ guitar ông được mệnh danh là "Sarasate của guitar".
Francisco Tárrega đã đặt nền móng cho guitar cổ điển thế kỉ 20, đã đưa vào guitar cổ điển các kĩ thuật trước đây chưa từng có và vẫn được dùng đến ngày nay, chẳng hạn ông sử dụng cả ngón đeo nhẫn để gảy đàn trong khi trước đó người ta chỉ dùng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa, kĩ thuật reo dây (tremolo) dành cho guitar cổ điển là phát minh của ông: dùng các ngón trỏ, giữa, đeo nhẫn gảy liên tục vào cùng một dây tạo nên cảm giác tiếng đàn ngân nga không dứt, một ví dụ điển hình cho kĩ thuật này chính là Recuerdos de la Alhambra lừng danh.
          Tác phẩm này được Narciso Yepes (1927-1997), là nghệ sĩ guitar người Tây Ban Nha, trình tấu bằng cây guitar 10 dây với kỹ thuật biểu diễn tuyệt hảo.

Estas Tonne - Nghệ sĩ của đường phố

         On the Path of Truth I have been falling and falling, standing up again and again and keep on walking.
         And I keep on walking this magnificent walk of remembrance called Love.
                                                                                           Estas Tonne.
          "Trên con đường của chân lý, tôi đã gục ngã và gục ngã, đã đứng dậy rồi đứng dậy và tiếp tục bước đi.
          Và tôi vẫn tiếp tục bước đi trong hành trình tuyệt vời của ký ức được gọi là TìnhYêu"

          Estas Tonne là một nghệ sĩ guitar người Nga gốc Do Thái, được cho là người hát rong hiện đại.
         Anh hiện là một trong những nhạc công guitar bậc thầy, với khả năng kết hơp âm nhạc cổ điển và hiện đại trong cách biểu diễn của mình. Phong cách trình diễn của Éstas hiện được xem là một hiện tượng độc đáo của làng guitar thề giới. Tiếng đàn của Éstas mang tính chất thiền trong âm thanh.   
        Theo Estas, tiếng đàn của anh không chỉ đơn thuần là âm nhạc và còn là cảm xúc của âm thanh trong lúc biểu diễn. Chính vì vậy, có thể nói, mỗi buổi trình diễn guitar của Éstas luôn là duy nhất và không bao giờ lập lại.

        Các bạn hãy xem một buổi trình diễn của Estas Tonne với nhạc phẩm "The song of the Golden Dragon"